BuddhaSasana Home Page

 Unicode VU-Times font


Bồ tát và Tánh không trong Kinh tạng Pali và Đại thừa

Thích Nữ Giới Hương
thichnugioihuong@yahoo.com

Tủ sách Bảo Anh Lạc- 2005

 Nguyên tác Anh ngữ: Bodhisattva and Śūnyatā in the Early and Developed Buddhist Traditions


Xin lưu ý: Các loại phông chữ VU-Times (Việt & Pali) và Arial Unicode MS (Hán) được dùng trong văn bản.

 

MỤC LỤC

  Lời Giới Thiệu
Lời Tri ân
Bảng Viết tắt
Biểu đồ

[01]

I. GIỚI THIỆU

Lý do chọn Đề tài
1. Khủng hoảng Chiến tranh
2. Khủng hoảng về Gia tăng Dân số
3. Khủng hoảng Sinh thái
4. Khủng hoảng nền Đạo đức Con người
5. Tốc độ tiến triển nhanh đến Thế giới hiện đại
6. Vấn đề Trao đổi Tư duy

Hướng Đề nghị
1. Trách nhiệm Thế giới
2. Xu hướng các Tôn giáo
3. Xu hướng cụ thể của Phật giáo

a. Quan điểm Không Giáo điều
b. Quan điểm Trí tuệ
c. Quan điểm Lòng tin
d. Quan điểm về Con người
e. Quan điểm Tánh không

Biện pháp Giải quyết

[02]

II. KHÁI NIỆM BỒ TÁT

Định nghĩa từ Bodhisatta (Bodhisattva)

Định nghĩa các thuật từ:
1. Chư thiên
2. A-la-hán
3. Thanh-văn
4. Bích-chi Phật
5. Đức Phật

Khái niệm Bồ-tát trong Kinh tạng Pali
1. Từ thời gian thái tử Sĩ-đạt-đa Xuất gia đến trước khi Ngài giác ngộ
2. Từ thời gian thái tử Sĩ-đạt-đa Nhập thai đến trước khi Ngài giác ngộ
3. Từ các Đức Phật Nhập thai đến trước khi Ngài giác ngộ
4. Tiền thân của các Đức Phật

[03] III. PHƯƠNG PHÁP TU TẬP CỦA BỒ TÁT TRONG KINH TẠNG PALI

1. Thức tỉnh Bản chất cuộc đời
2. Tìm cầu Chân lý
3. Trung đạo
4. Thiền định
5. Trí tuệ

[04] IV. NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN HỌC THUYẾT BỒ TÁT ĐẠI THỪA

Khởi nguyên dẫn đến học thuyết Bồ tát

1. Các Khuynh hướng Phát triển trong Phật giáo

a. Đại thừa
b. Khái niệm mới về Đức Phật
c. Tín (Bhakti)

2. Ảnh hưởng các Truyền thống khác

a. Đạo Bà-la-môn: Bhagavata và Saiva
b. Đạo thờ Thần lửa
c. Đạo thờ Rồng
d. Nghệ thuật Hy-lạp
e. Tôn giáo và Văn hoá Ba-tư
f. Sự Truyền đạo giữa các Bộ lạc mới

Sự Thăng hoa Học thuyết Bồ tát
Vị trí và Ý nghĩa của Mahasattva

[05] V. KHÁI NIỆM KHÔNG TRONG KINH TẠNG PALI

1. Không như Không vật thể
2. Không như Một thực tại
3. Không như Vô ngã
4. Không như Lý Duyên khởi hoặc Trung đạo
5. Không như Niết bàn

[06] VI. KHÁI NIỆM TÁNH KHÔNG TRONG KINH ĐIỂN ĐẠI THỪA

Tổng quan về Kinh điển Đại thừa Kinh Bát nhã Ba-la-mật

a. Kinh Kim Cang Bát nhã Ba-la-mật
b. Bát nhã Tâm kinh

Khái niệm Tánh không trong kinh điển Đại thừa

1. Định nghĩa Tánh không
2. Các so sánh của Tánh không
3. Những Ý nghĩa của Tánh không

a. Tánh không là Bản chất thực của Thực tại thực nghiệm
b. Tánh không là Lý Duyên khởi
c. Tánh không là Trung đạo
d. Tánh không là Niết-bàn
e. Tánh không vượt ra ngoài phủ định và không thể mô tả được
f. Tánh không là những phương tiện của Chân đế và Tục Đế

Mối Liên quan giữa hai khái niệm Không và Tánh không

[07] VII. BỒ TÁT HẠNH

Khởi Tín tâm
Phát Bồ đề tâm

Tu Ba-la-mật
1. Mười Ba-la-mật trong Kinh điển Pali
2. Mười Ba-la-mật trong Kinh tạng Sanskrit

Vai trò Tánh không trong Bồ tát hạnh Giới-định-tuệ
Phẩm hạnh của Bồ tát Mối Liên quan giữa Ba-la-mật và Địa

[08] VIII. ĐỨC PHẬT QUA KHÁI NIỆM PHẬT THÂN

Khái niệm Phật thân trong Kinh tạng Pali
Quan điểm về Đức Phật ở Thời kỳ phân chia Bộ phái

Khái niệm Phật thân trong Đại thừa

1. Ứng thân
2. Hoá thân
3. Pháp thân

Sự Liên quan giữa Ứng thân, Hoá thân và Pháp thân

[09] IX. KẾT LUẬN

Tánh Đồng nhất trong Kinh điển Pali và Đại thừa

Sự Ứng dụng của Khái niệm Bồ tát
1. Học thuyết Bồ tát trong sự cải thiện Cá nhân và Xã hội
2. Học thuyết Bồ tát trong sự nghiệp Hoằng pháp

Sự Ứng dụng của Khái niệm Tánh không
1. Tánh không và Quan điểm về Con người cũng như xã hội
2. Tánh không và Khoa học
3. Tánh không trong mối Liên quan với các Tôn giáo khác

[10] Danh hiệu Bồ tát trong tiếng Phạn và Trung Hoa
Sách Tham khảo

-ooOoo-

BỒ TÁT VÀ TÁNH KHÔNG TRONG KINH TẠNG PALI VÀ ĐẠI THỪA

Có hai khái niệm sâu sắc, tinh tế và phổ biến trong tất cả các kinh điển Đại-thừa (Truyền thống Phật giáo Phát triển) là Bồ tát Tánh không. Thật ra, hai khái niệm này có nguồn gốc từ kinh tạng Pali (Truyền thống Phật giáo Nguyên thuỷ). Nói cách khác, tác phẩm này nhằm giới thiệu quan điểm sống và phương pháp tu tập thực tiển để tuệ giác Tánh không và minh chứng với các đọc giả những học thuyết trong Phật giáo Đại thừa và Nguyên thuỷ thực chất là cùng nguồn gốc, bản chất và mục đích. Đọc giả cũng sẽ cảm nhận thế nào mà thuật từ Tánh không nghe có vẽ như phủ định, bi quan nhưng chân ý nghĩa của Tánh không lại là năng lực chính khiến vị Bồ tát trở nên tích cực và tận lòng trong việc xây dựng một thế giới nhân tâm tại đây.

*

LỜI GIỚI THIỆU

Trong kinh tạng Pāli, khái niệm Bồ-tát (Bodhisatta) là chỉ cho từ lúc thái tử Sĩ-đạt-đa xuất gia đến trước khi ngài chứng ngộ, hoặc từ khi ngài (hay các bồ tát) nhập thai đến trước khi ngài (hay các bồ tát) giác ngộ hoặc bồ tát là kiếp trước của các Đức Phật. Vài thế kỷ trôi qua, khi đại thừa xuất hiện, khái niệm bồ tát trong kinh điển Pāli phát triển trở thành học thuyết Bồ tát (Boddhisattva) với lý tưởng chủ đạo đóng vai trò chính trong phong trào đại thừa.

Trong các tôn giáo hữu thần như Thiên chúa giáo hay Hindu giáo thì Thượng đế hay thần Shiva được xem là đấng tối thượng, đấng sáng tạo tối cao có năng lực thưởng phạt và chúng sanh đau khổ cần phải được năng lực siêu nhiên cứu rỗi… Trong Phật giáo, bồ tát được xem như bậc đại nhân, các ngài cũng là con người bình thường vẫn bị chi phối bởi luật sinh diệt, nhân quả… tuy nhiên, bồ tát nỗ lực chuyển hoá nghiệp xấu, đau khổ của chính mình và chỉ con đường giải thoát, lợi lạc cho chúng sanh bằng tất cả tấm lòng từ bi hỉ xả vô lượng, chứ các ngài không phải bất tử hay thống lĩnh, làm chủ định mệnh của nhân loại.

Một trong những phương pháp tu tập của bồ tát hay động cơ chính khiến bồ tát hành bồ tát hạnh (Boddhisattvā-cāryā) không mệt mõi là tuệ giác tánh không. Kế thừa khái niệm không (Sunnatā) trong kinh điển Pali, tánh không (Sūnyatā) trong đại thừa được xem như là một thực tướng Bát-nhã, là con đường dẫn đến sự toàn tri đó là duyên khởi, trung đạo, niết-bàn và nhị đế. Với ý nghĩa đó, tánh không được xem như ý niệm căn bản của đại thừa, là một khái niệm tích cực mà ngài Long-thọ đã khẳng định:

With Sūnyatā, all is possible; without it, all is impossible’.1

Nghĩa là ‘Do Tánh không mà các pháp được thành lập, nếu không có Tánh không, thì tất cả pháp không thể hình thành’.

Edward Conze cũng đã nói rằng có hai điều cống hiến lớn mà đại thừa đã cống hiến cho tư tưởng nhân loại, đó là việc sáng tạo ra lý tưởng Bồ tát và chi tiết hoá học thuyết Tánh không.2

Trong tác phẩm ‘Bồ tát và Tánh không trong kinh tạng Pāli và Đại thừa’ dịch từ luận án Tiến sĩ ‘Boddhisattva and Sūnyatā in the Pāli Nikāyas and Mahāyāna Sūtras: An Analysis’ của tỳ-kheo-ni Giới Hương, tác giả đã nỗ lực nghiên cứu và đưa ra nhiều dẫn chứng từ nguyên bản kinh Pāli cũng như Hán tạng để so sánh, chứng minh mối liên quan giữa hai khái niệm Bồ tát và Tánh không. Thiết tưởng đây là một tác phẩm nghiên cứu nghiêm túc sẽ giúp ích nhiều cho các học giả có tâm huyết muốn tìm hiểu sâu về đạo Phật, đặc biệt về lãnh vực này.

Xin trân trọng giới thiệu.

Ngày 28, tháng 3, năm 2006
Hoà Thượng Thích Mãn Giác
Viện chủ chùa Việt-nam tại Los Angeles, Hoa Kỳ

GHI CHÚ:

1 The Middle Treatise, T 1564 in Vol. 30, tr. By Kumarajiva in 409 A.D., XXIV: 14; Nagarjuna’s Twelve Gate Treatise, viii, Boston: D. Reidel Publishing Company, 1982.

2 Edward Conze, Thirty years of Buddhist Studies, London, 1967, tr. 54.

*

THƠ CỦA ÔN
(Hòa Thượng Thích Mãn Giác)

Tánh Không nhổ sạch vào lòng
Trần gian còn lại đoá hồng cho con
Tháng ngày tu học mỏi mòn
Cười lên một tiếng vững bền ngàn năm.

(Bồ tát và Tánh Không)

Ngày 29 tháng 03 năm 2006

*

LỜI GIỚI THIỆU

Vào tháng 10 năm 2005 tại Trung Tâm Tu Học Viên Giác ở Bồ Đề Đạo Tràng, Ấn Độ, tôi đã nhận được những quyển sách gởi biếu và đề tặng của Sư Cô Giới Hương, gồm: Boddhisattva and Sunyata in the Early and Developed Buddhist Traditions phiên bản ấn hành lần thứ 2 của nhà xuất bản Eastern Book Linkers, Delhi; tiếp theo là quyển Bồ Tát và Tánh Không trong kinh tạng Pali và Đại Thừa; quyển Ban Mai Xứ Ấn gồm 3 tập; quyển Vườn Nai, Chiếc Nôi Phật Giáo và quyển Xá Lợi của Đức Phật sách dịch từ tiếng Anh.

Quyển Bồ Tát và Tánh Không tôi chọn đọc trước. Đọc suốt mấy ngày mới xong của hơn 500 trang sách và khi gấp sách lại, tôi có nói với quý Thầy, quý Cô tại Bồ Đề Đạo Tràng lúc ấy rằng: "Đây là một luận án Tiến Sĩ đáng cho điểm tối ưu". Tôi không biết khi Sư Cô ra trường điểm mấy, không thấy đề cập nơi tiểu sử; nhưng theo tôi, sau khi đọc sách xong, mọi người chắc có thể cũng cảm nhận được như tôi vậy. Đây là những lý do:

Thứ nhất đa phần những luận án nghiên cứu như thế có tính cách khô khan; nhưng ở đây chỉ trong vòng 2 năm mà sách đã xuất bản và tái bản 2 lần (2004 và 2005). Như thế phải là một loại sách lạ, chưa có ai viết và vì thế mà nhiều nhà nghiên cứu đã mua để tham khảo.

Thứ hai - Khi đi vào nội dung mới thấy cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt, tác giả đã so sánh Tánh Không theo hai truyền thống Pali và Đại Thừa rất chặt chẽ, hợp lý; khiến thu hút được thị hiếu của người đọc.

Tánh Không hay Không Tánh (Sunyata) vốn là tên gọi khác của Chân Như, mà Chân Như thì đã lìa sự chấp ngã và chấp pháp; thế mà ngôn ngữ vẫn còn dùng được để chuyển tải Chân Như, quả là một ngòi bút tài tình. Tuy ngôn ngữ dùng một cách dung dị cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt; nhưng nội dung thì vượt thoát cả tam giới. Đây là một luận án, một tác phẩm hay.

Bát Bất Trung Đạo của Ngài Long Thọ (Nagajuna) như bất sanh bất diệt; bất thường bất đoạn; bất khứ bất lai và bất nhất bất dị để đối chọi lại với 8 sự si mê của: Sinh diệt, thường đoạn, khứ lai và nhân dị. Vốn đã không một và chẳng khác - nghĩa là trong cái nầy có cái kia và trong cái kia hàm chứa cái nầy. Điều ấy nhất nguyên luận, nhị nguyên luận và Tam Đoạn Luận của Tây Phương khó bề mà sánh nổi với tư tưởng của Trung Đạo ấy. Nếu có, chỉ nằm ở phần hình nhi hạ học mà thôi; chứ không thể so sánh ở phần hình nhi thượng học và ở cõi vô sinh hay vô học được.

Phật Học vốn sáng ngời ở cõi trời Đông qua mấy ngàn năm lịch sử, dưới sự giác ngộ của Đức Phật, rồi đến các bậc Tổ Sư truyền thừa từ Ấn Độ như Mã Minh, Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân rồi đến Trung Hoa như Huệ Viễn, Lâm Tế, Bách Tượng và Việt Nam như Vạn Hạnh, Khuông Việt, Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ v.v... đều là những bậc Tổ Sư đã một thời khơi ngọn đèn chánh pháp, giương cao tư tưởng của Tánh Không để nhập thế; nhưng không bị đời biến ảo cải hóa; mà ngược lại đã chuyển hóa cuộc đời nầy từ khổ đau để đi đến an lạc, giải thoát, giác ngộ, giống như phẩm Thiên Nữ Hiến Hoa trong kinh Duy Ma Cật. Khi hoa rơi, hoa chỉ đọng lại nơi vai của Thanh Văn; còn Bồ Tát thì mặc cho hoa rơi; nhưng tâm của Bồ Tát thì không đắm nhiễm; nên hoa tự động phải lăn đi nơi khác.

Ở đây tinh thần Bất nhị, tinh thần Bát nhã, tinh thần tánh Không của hai truyền phái lớn trong Phật Giáo tự ngàn xưa đã được Sư Cô Thích Nữ Giới Hương giới thiệu qua nhiều chương sách khác nhau. Khi quý vị đi vào sâu nội dung của từng trang sách, sẽ rõ biết điều đó. Nay Sư Cô định cho tái bản, bản tiếng Việt tại Hoa Kỳ và mong tôi viết lời giới thiệu và tôi đã tùy hỷ. Vì lẽ trong suốt những năm mà Sư Cô học tại Ấn Độ cho đến năm 2003 để ra Tiến Sĩ Triết Học tại đó, tôi và Chùa Viên Giác tại Hannover Đức quốc đã bảo trợ cho Sư Cô là một trong hàng trăm vị đã học và đương cũng như sẽ ra trường. Do nhân duyên ấy mà tôi có cơ hội để viết lời giới thiệu cho Sư Cô về tác giả và tác phẩm nầy.

Giáo Dục vốn là vấn đề nhân bản của con người. Cây giáo dục phải trồng trong hàng 10 hay 20 năm mới có thể gặt hái được kết quả và đó là lối đầu tư của rất nhiều người; nếu muốn Phật Giáo và xã hội nầy phát triển một cách đồng bộ. Tôi vẫn thường hay nói: "Sự học nó không làm cho con người giải thoát được; nhưng nếu muốn mở cánh cửa giải thoát kia không thể thiếu sự tu và sự học được". Đó chính là nguyên lý và cứu cánh. Nay tôi tuổi gần 60 nhưng vẫn còn ham học hỏi. Do vậy rất vui khi thấy quý Thầy, quý Cô tuổi trên dưới 40 vừa mới ra trường, mang khả năng, sự học hỏi, sự tu luyện, trau giồi giới đức để đi vào Đời qua con mắt từ bi và trí tuệ trong tinh thần Tánh Không của Đạo Phật, thì mong rằng một mai đây hương hoa giải thoát sẽ lan tỏa khắp chốn trần gian nầy.

Tôi có đôi lời giới thiệu và mong rằng khi đi sâu vào phần nội dung, quý độc giả sẽ thấu hiểu nhiều hơn và mong rằng có được nhiều tâm hồn vị tha để cho Đời và cho Đạo được sáng ngời trên cõi thế của ngày nay và mai hậu.

Mong được như vậy.

Viết xong vào một sáng mùa Xuân năm 2006 tại thư phòng chùa Viên Giác Đức Quốc.

Thích Như Điển
Phương Trượng chùa Viên Giác,
Hannover, Đức quốc

*

LỜI TRI ÂN

Trong thời gian lưu trú tại Ấn-độ để theo học khoá Tiến-sĩ Phật-học (Ph.D.) tại trường Đại-học Delhi, Cố Hoà-thượng Tịnh-Viên, HT Trí-Quảng, TT Như-Điển, TT Minh-Chơn, Cố TT Minh-Thành… không chỉ ủng hộ con bằng vật chất và cả tinh thần để con tạm có đủ hành trang mà yên tâm theo đuổi toàn khoá học cho đến ngày thành tựu. Thật không sao diễn tả cho hết lòng mang ơn của con đối với các ngài.

Trong quá trình nghiên cứu luận-án, tôi cũng muốn bày tỏ lòng biết ơn đến Tiến sĩ I.N. Singh, vị Giáo sư cố vấn luận án với phương pháp hướng dẫn khoa học đã giúp cho tôi có tầm nhìn khách quan, tự tin và tinh thần tự lực.

Tôi cũng muốn bày tỏ lòng biết ơn đến các vị Giáo-sư của Phân khoa Phật-học đã trực tiếp hoặc gián tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian từ khoá học Cao-Học Phật-học (M.A.) cho đến nay.

Cũng xin cảm niệm công đức tất cả quý thầy cô, thiện-hữu tri-thức và quý Phật-tử đã giúp tôi hoặc bằng cách này hay cách khác để luận án được hoàn thành tốt đẹp mà quý danh rất nhiều, nơi đây không thể liệt kê hết.

Cuối cùng, tôi cũng chân thành mang ơn các tác giả của những quyển kinh sách hay mà tôi đã đọc, trích dẫn và tham khảo trong tác phẩm nghiên cứu của mình.

Đây là tác phẩm Luận-án Tiến-sĩ tại trường Đại học Delhi, trong lúc dịch ra Việt văn, tôi có sữa chữa, thêm bớt chút ít nhằm làm sáng tỏ ý nghĩa. Mặc dù tôi có cố gắng rất nhiều nhưng kiến thức và khả năng dịch thuật còn yếu kém, tập sách vẫn không sao tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nhất định. Kính mong nhận được những lời góp ý chân tình để những lần tái bản sau tập sách được hoàn hảo và có ý nghĩa hơn.

Mùa thu tại ký-túc-xá WUS, Delhi, Ấn Độ, 2005
Kính bút,
Tỳ-kheo-ni Giới Hương
(thichnugioihuong@yahoo.com)

*

BẢNG VIẾT TẮT

A AṄGUTTARA NIKĀYA (Kinh Tăng Chi)
BB BODHISATTVABHŪMI (Bồ tát Địa)
BDBSL THE BODHISATTVA DOCTRINE IN BUDDHIST SANSKRIT LITERATURE ( Bồ tát trong Kinh điển tiếng Phạn)
BGS THE BOOK OF THE GRADUAL SAYINGS (Kinh Tăng Chi)
BIHP BUDDHIST IMAGES OF HUMAN PERFECT (Hình tượng Con người Siêu việt của Đức Phật)
BKS THE BOOK OF THE KINDRED SAYINGS (Kinh Tương ưng)
Bs BUDDHIST SCRIPTURE (Kinh điển Phật giáo)
CPB THE CENTRAL PHILOSOPHY OF BUDDHISM (Tinh hoa Triết lý Phật giáo)
D DĪGHA NIKĀYA (Kinh Trường bộ)
DB THE DIALOGUE OF THE BUDDHA (Trường bộ)
DCBT A DICTIONARY OF CHINESE BUDDHIST TERMS (Tự điển Phật học Trung-Anh)
DPPN DICTIONARY OF PĀLI PROPER NAMES (Tự điển Pali)
Dha DHAMMAPADA (Kinh Pháp cú)
EB ENCYCLOPAEDIA OF BUDDHISM (Bách khoa Phật học)
EE THE EMPTINESS OF EMPTINESS (Tánh Không của Tánh không)
EL THE ETERNAL LEGACY (Gia tài bất diệt)
GBWL A GUIDE TO THE BODHISATTVA‘S WAY OF LIFE (Bồ tát Hạnh)
GD THE GROUP OF THE DISCOURSES (Kinh Tập của Tiểu bộ)
I THE ITIVUTTAKA (Kinh Phật thuyết Như vậy)
J JĀTAKA (Kinh Bổn sanh)
LS THE LOTUS SUTRA (Diệu Pháp Liên Hoa kinh)
LSPW THE LARGE SŪTRA ON PERFECT WISDOM (Kinh Đại Bát-nhã)
Mt MAJJHIMA NIKĀYA (Kinh Trung bộ)
Mhvu MAHĀVASTU (Kinh Đại-sự)
MK MĀDHYAMIKA KĀRIKĀS OF NĀGĀRJUNA (Trung quán luận của Long thọ)
MLS THE MIDDLE LENGTH SAYINGS (Kinh Trung bộ)
PED PĀLI-ENGLISH DICTIONARY (Tự điển Pali-Anh văn)
PP THE PATH OF PURIFICATION (VISUDDHIMAGGA) (Luận Thanh-tịnh đạo)
S SAṀYUTTA NIKAYA (Kinh Tương ưng)
SBFB STORIES OF THE BUDDHA’S FORMER BIRTHS (Kinh Bổn sanh)
Sn SUTTA NIPATA (Kinh tập)
SSPW SELECTED SAYINGS FROM THE PERFECTION OF WISDOM (Pháp thoại trong Kinh Đại Bát-nhã)
Ś ŚIKṢĀSAMUCCAYA (Luận Đại thừa tập Bồ tát học)
Vi VISUDDHIMAGGA (Luận Thanh tịnh đạo)

*

BIỂU ĐỒ

1. Tiến trình Phát triển nền Văn minh Phương tây
2. Tiến trình thiền chứng (Jhānas)
3. Ba Trí
4. Mười hai Nhân duyên (Pratītya-samutpāda)
5. Mối liên quan giữa Duyên quán, Không quán, Giả quán và Trung quán
6. Bốn loại Biện luận Phủ định (Chatuskoti vinirmukta)
7. Chân đế
8. Nhị đế qua ba Trình độ khác nhau
9. Tục đế (Saṁvṛti-satya) và Chân đế (Pāramārtha-satya)
10. Vai trò Tánh không (Śūnyatā) trong mười Ba-la-mật (Pāramitās)
11. Mối liên quan Giới-định-tuệ với sáu Ba-la-mật
12. Mối Liên quan giữa Công đức, Trí tuệ, Tư lương với Giới-định-tuệ
13. Mối liên quan giữa mười Ba-la-mật và mười Địa (Bhūmis)

-ooOoo-

Top of page | Contents | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 | 09 | 10

Chân thành cám ơn Sư cô Giới Hương đã gửi tặng bản vi tính (Binh Anson, 07-2009).


[Thư Mục]
last updated:
21-07-2009